sản phẩm

AROMABIOTIC

Aromabiotic là sản phẩm chứa các axit béo mạch trung bình, cho hiệu...

CIBENZA® DP100

CIBENZA® DP100 chứa protease phổ rộng và chịu nhiệt, CIBENZA® DP100...

Finase EC

Finase EC là sản phẩm chứa phytase thuộc nhóm 6-phytase có nguồn gốc từ vi...

Mintrex PSe

Mintrex Pse chứa 4 loại vi khoáng hữu cơ thiết yếu trong một sản phẩm, thuận tiện trong sản...

Mintrex Zn

Mintrex Zn có 16% Zn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu trong đường tiêu hóa,...

NATUPHOS 5000 L

Natuphos là sản phẩm của công ty BASF CHLB Đức. Hơn cả một chất xúc tác...

Amnil

AmnilTM - Probiotic đa chủng Bacillus giúp giảm mùi hôi trong chuồng...

SIPERNAT®

Chất chống vón cục cho các sản phẩm premix và các hỗn hợp phụ gia thức...

AGal-Pro®

Enzyme đặc biệt dành cho các khẩu phần có khô dầu đậu nành, bắp...

Hilyses

Hilyses bổ sung nucleotide tự do vào thức ăn gia súc

VALOSIN FG 50

VALOSIN FG 50 phòng ngừa và điều trị các bệnh đường...

HP300

HP 300 là một sản phẩm protein chất lượng cao của HAMLET 

Mintrex Mn

Mintrex Mn là sản phẩm có 13% Mn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu và 76 %...

Mintrex Cu

Mintrex Cu là sản phẩm có 15% đồng (Cu) hữu cơ ở dạng chelate và 78% Methione...

Sữa đầu (Phần II): Các yếu tố miễn dịch đặc hiệu

Tiếp theo câu chuyện về sữa đầu của tiến sỹ John Gadd - chuyên gia của Pig Progress, bài viết này giải thích rõ hơn về việc quản lý chủ động và mở rộng hơn về vị trí miễn dịch trong chăn nuôi ngày nay.

LỜI CHUYÊN GIA

Trong bài viết trước, tôi đã tập trung đi vào tầm quan trọng của năng lượng trong sữa đầu, đặc biệt là ngày nay khi chúng ta có được những lứa sinh nhiều heo con hơn. Tôi cũng đề nghị bổ sung thêm một cụm từ mới trong sổ tay từ vựng chăm sóc heo con: “quản lý chủ động bằng tay”.

Tất cả các nhà lai tạo giống vật nuôi và nhân viên của họ đều biết việc hấp thu ngay những những phân tử miễn dịch lớn có trong sữa đầu trong vòng 12 -15 giờ sau sinh (có thể khác nhau 1 chút với các giống heo nái) có vai trò rất quan trọng.

Các nhà chăn nuôi cho rằng việc các liên kết giữa các tế bào niêm mạc ruột non tự nhiên khít chặt lại nhanh chóng đối với các phân tử miễn dịch là một hiện tượng kỳ lạ; nhưng tôi cho rằng hiện tượng này đã xuất hiện thông qua quá trình chọn lọc tự nhiên để ngăn chặn nhiều tác nhân gây bệnh từ môi trường tiếp xúc bên ngoài lên heo con sơ sinh.



Heo con sơ sinh khỏe mạnh và yếu ớt

Do nhiều heo con sơ sinh cuối thai kỳ được sinh ra với mức kháng thể trung bình để chống lại bệnh tật (miễn dịch thụ động) từ trong bào thai. Tuy nhiên, những heo con sơ sinh khỏe mạnh nhanh chóng huy động được đến 30mg/ ml lượng kháng thể bảo vệ cần thiết trong máu (nhu cầu miễn dịch), trong khi những heo con sinh sau cùng, yếu hơn, có thể nhẹ cân hơn và tiêu tốn nhiều năng lượng hơn, chỉ có thể huy động kháng thể được ở mức 4 - 6 mg/ ml. Đây là những heo con bị tổn thất ở mức đáng lo ngại với tỷ lệ chết từ 12 - 18% lúc cai sữa, tỷ lệ mà chúng ta thấy ngày nay. Ngay cả với những heo còn sống được ghép đàn và nuôi đến lúc xuất thịt thì năng suất của chúng vẫn thấp hơn mức năng suất di truyền tiềm năng.

Quản lý chủ động

Đây là mục tiêu mà quản lý chủ động hướng đến. Điều quan trọng tất yếu là người chăm sóc nhanh chóng nhận diện được heo con yếu, và đảm bảo rằng họ thay đổi vị trí của 1 hoặc 2 heo con khỏe mạnh đang ngậm những vú có khả năng tiết sữa chứa nhiều IgG – loại kháng thể giúp chống lại nhiều mầm bệnh có thể đã có sẵn trong chuồng đẻ hoặc trong ổ úm. Đổi chỗ những heo con sơ sinh khỏe mạnh nhất trong đàn ra khu úm nhiệt trong một vài phút. Cũng cần quan sát những heo con đang bú những vú chỉ có nước, những vú đó có thể tiết ít sữa đầu, hoặc có thể do heo con khác đã bú cạn. Đổi chỗ heo con sang núm vú khác - tiết nhiều sữa đầu hơn sẽ giúp hỗ trợ hiệu quả cho vật nuôi. Tất nhiên việc làm này sẽ mất thời gian, nhưng với những lợi ích được liệt kê từ bảng 1 bên dưới, có thể thấy việc chủ động quản lý mang đến cho chúng ta những giá trị tiềm năng.
Bảng 1 – Những lợi ích tiềm năng từ việc quan tâm chăm sóc đúng cách



* Trọng lượng cai sữa không được xem xét đến, cũng như số ngày cai sữa và trọng lượng cai sữa rất khác nhau. ** Khoảng trọng lượng trung bình của heo khi giết thịt khoảng 6,2-105 kg.

Thời gian, thời gian, thời gian! – Bí mật của việc quản lý chủ động bằng tay

Câu thần chú khi đi mua nhà được nhiều người biết đến là “Vị trí, vị trí, vị trí”. Còn với heo con, câu thần chú kỳ diệu ấy chính là “Thời gian, thời gian, thời gian”. Chúng ta đã không dành đủ thời gian cho heo con – Tôi đã khảo sát điều này từ cách đây nhiều năm. Với những lứa đẻ có nhiều heo con hơn, thời gian lại càng quan trọng, và tôi sẽ nhắc lại thông tin này cho các chủ chủ trang trại, các nhà quản lý những nơi tôi ghé thăm, những vấn đề ẩn phía sau việc quản lý lao động. Trớ trêu thay, có rất ít người thật sự nhờ tôi tư vấn làm cách nào để giảm được tổn thất xuống chỉ còn 0,5 heo con ở những lứa đẻ có từ 12 heo con trở lên (tỷ lệ chết dưới 6% lúc cai sữa là quan niệm đã cũ và lỗi thời).

Bạn thuộc về nhóm nào?


Tôi đã đề cập trong thí nghiệm vừa qua, có 2 nhóm thí nghiệm – nhóm những người quản lý đặt vấn đề cung cấp năng lượng và kháng thể cho heo con sơ sinh đúng cách và tốt; và nhóm gồm những nhân công ngẫu nhiên hoặc những nhân viên không dành đủ thời gian thực hành việc quản lý bằng tay. Tôi có đủ dữ liệu đối chứng song song giữa những nhà sản xuất ở cả 2 nhóm, vui lòng xem bảng 1.

Kháng thể trong sữa đầu:
- IgG (76%): Bảo vệ heo con sơ sinh chống lại sự xâm nhiễm của các vi khuẩn từ môi trường ngoài, những bệnh mà heo con không có miễn dịch truyền từ mẹ.
- IgA (17%): Bảo vệ lớp lót niêm mạc bên trong các cơ quan ở heo con sơ sinh (phổi / ruột) chống lại vi khuẩn gây bệnh.
- IgM (7%): Bảo vệ heo con khỏi virus và kích hoạt hệ miễn dịch.
- Lượng sữa mục tiêu cần lấy (trong 24-36 giờ đầu tiên): 400-500 g, lượng sữa tương đương đủ cung cấp cho 3 - 4 heo con sơ sinh, đặc biệt lấy đủ sữa cung cấp cho 2 heo con trong 12 giờ đầu sau sinh, và đặc biệt đủ sữa cho những heo con nhỏ, yếu được sinh ra cuối cùng.

Được thêm 12 kg thịt

Lời nhận xét từ bảng 1: ở những trại đặt vấn đề quản lý sữa đầu làm trọng tâm, trung bình họ bán được nhiều hơn 12kg thịt thương phẩm ở mỗi nái so với những trại mà tôi đánh giá cần phải cải thiện. Việc làm này mang lại thêm khoảng 6 tấn thịt cho mỗi trại điển hình hàng năm, dễ dàng bù đắp cho chi phí lao động thêm từ 4 đến 7 lần. Tôi nói “khoảng” hay “xấp xỉ” vì các yếu tố quản lý khác có thể cũng đóng góp vào phần lợi nhuận này, nhưng tôi trích dẫn thông tin trên như một hướng dẫn so sánh cùng với tỷ lệ tử vong trước khi cai sữa để bổ sung giải thích sự khác biệt biệt này.

Nguồn: Pig Progress

Biên dịch: Ecovet Team

kỹ thuật khác

33.jpg

Sản phẩm chọn lọc hiệu quả cao

ecovet-32.jpg

Thân thiện với môi trường

banner-footer-28.png

Hướng tới các giải pháp, sáng tạo, tiết kiệm

CÔNG TY TNHH ECOVET

Tổng lượng truy cập: 39,115

Đang online: 6