sản phẩm

AROMABIOTIC

Aromabiotic là sản phẩm chứa các axit béo mạch trung bình, cho hiệu...

CIBENZA® DP100

CIBENZA® DP100 chứa protease phổ rộng và chịu nhiệt, CIBENZA® DP100...

Finase EC

Finase EC là sản phẩm chứa phytase thuộc nhóm 6-phytase có nguồn gốc từ vi...

Mintrex PSe

Mintrex Pse chứa 4 loại vi khoáng hữu cơ thiết yếu trong một sản phẩm, thuận tiện trong sản...

Mintrex Zn

Mintrex Zn có 16% Zn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu trong đường tiêu hóa,...

NATUPHOS 5000 L

Natuphos là sản phẩm của công ty BASF CHLB Đức. Hơn cả một chất xúc tác...

Amnil

AmnilTM - Probiotic đa chủng Bacillus giúp giảm mùi hôi trong chuồng...

SIPERNAT®

Chất chống vón cục cho các sản phẩm premix và các hỗn hợp phụ gia thức...

AGal-Pro®

Enzyme đặc biệt dành cho các khẩu phần có khô dầu đậu nành, bắp...

Hilyses

Hilyses bổ sung nucleotide tự do vào thức ăn gia súc

VALOSIN FG 50

VALOSIN FG 50 phòng ngừa và điều trị các bệnh đường...

HP300

HP 300 là một sản phẩm protein chất lượng cao của HAMLET 

Mintrex Mn

Mintrex Mn là sản phẩm có 13% Mn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu và 76 %...

Mintrex Cu

Mintrex Cu là sản phẩm có 15% đồng (Cu) hữu cơ ở dạng chelate và 78% Methione...

Nghiên cứu: Năng lượng tiêu hóa trong các sản phẩm chế biến từ đậu nành

Báo cáo do H H Stein và những người khác thực hiện, mục đích thảo luận về "Tỷ lệ tiêu hóa năng lượng, mật độ chuyển hóa và tiêu hóa năng lượng trong các sản phẩm đậu nành và hạt cải dầu chế biến trong thức ăn của heo lứa".

Khô dầu đậu nành là nguồn protein phổ biến nhất trong khẩu phần ăn của heo tại Mỹ. Tuy nhiên, khô dầu đậu nành thường chứa các yếu tố kháng dinh dưỡng như protein kháng nguyên, oligosaccharides, lectin, và chất ức chế trypsin làm hạn chế hấp thụ thức ăn ở heo đang cai sữa. Do đó, cần sử dụng các phương pháp chế biến nhằm loại bỏ các yếu tố kháng dinh dưỡng ra khỏi khô dầu đậu nành, bao gồm bổ sung enzyme, lên men, và loại bỏ xơ hòa tan.

Giống như khô dầu đậu nành, các sản phẩm từ hạt cải dầu thường không được dùng làm thức ăn cho heo con đang cai sữa do có chứa glucosinolate và hàm lượng xơ cao. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng quá trình lên men khô dầu đậu nành có thể làm giảm các yếu tố kháng dinh dưỡng và hàm lượng xơ. Một thí nghiệm được tiến hành để đánh giá tỷ lệ tiêu hoá toàn phần biểu kiến (ATTD) của năng lượng, mật độ năng lượng tiêu hóa (DE) và năng lượng trao đổi (ME) trong bốn nguồn nguyên liệu gồm: sản phẩm đậu nành chế biến, khô dầu đậu nành thông thường, khô dầu hạt cải dầu-00 thông thường, và một hỗn hợp phụ phẩm lên men từ khô dầu hạt cải dầu-00, cám lúa mì, vỏ khoai tây, và mật đậu nành.

Nguyên liệu và khẩu phần thí nghiệm


Thí nghiệm có tổng cộng 64 heo thiến với trọng lượng cơ thể trung bình ban đầu là 19.81 kg được cho ăn một trong tám khẩu phần. Bốn sản phẩm đậu nành chế biến từ hai nguồn khô dầu đậu nành đã qua xử lý enzyme (ESBM-1 và ESBM-2), khô dầu đậu nành ép (SBM-EX), và đạm đậu nành đậm đặc (SPC). Một khẩu phần khác chứa khô dầu đậu nành thông thường (SBM-CV). Hai khẩu phần hạt cải dầu gồm: khô dầu hạt cải dầu-00 thông thường (RSE), và một hỗn hợp phụ phẩm lên men (FCM) chứa khô dầu hạt cải dầu-00, lúa mì, mật đậu nành, và vỏ khoai tây. Trong đó có một khẩu phần ngô cơ bản, bảy khẩu phần còn lại, mỗi khẩu phần chứa ngô và một trong bảy nguyên liệu trên, chúng được xem như nguồn năng lượng duy nhất trong khẩu phần. Hàm lượng nguyên liệu được cho ở mức để ra được kết quả hàm lượng nito giống nhau trong các khẩu phần.

Kết quả

ATTD của năng lượng thô trong khô dầu đậu nành thường là cao nhất (P <0.05) (Bảng 1). Giá trị ATTD của tổng năng lượng giữa ESBM-1, ESBM-2, SBM-EX, và SPC không có khác biệt. ATTD của GE trong RSE và FCM là thấp nhất (P <0.05), và không có khác biệt giữa hai khẩu phần này.

Trên cơ sở khẩu phần ăn, ESBM-1, SBM-EX, và SPC chứa mật độ DE và ME cao nhất (P <0.05). Không có sự khác biệt về mật độ DE và ME trong khẩu phần ESBM-2 và SBM-CV. RSE ít DE (P<0.05) hơn ESBM-2 và SBM-CV, và FCM có ít DE nhất (P <0.05). Giá trị ME của RSE và FCM không khác biệt, và ít hơn so với tất cả các sản phẩm đậu nành khác (P <0.05).

Trên cơ sở vật chất khô, ESBM-1, SBM-EX, SPC, và SBM-CV chứa mật độ DE và ME cao nhất (P<0.05). ESBM-2 chứa DE và ME thấp hơn (P <0.05) so với tất cả các sản phẩm đậu nành khác trừ DE của SBM-CV. RSE và FCM chứa ít DE và ME nhất (P <0.05).

Bảng 1. Mật độ năng lượng tiêu hóa và trao đổi và tỷ lệ tiêu hoá toàn phần biểu kiến của tổng năng lượng trong khô dầu đậu nành đã qua xử lý enzyme, khô dầu đậu nành ép, hàm lượng protein đậu nành, khô dầu đậu nành thông thường, khô dầu hạt cải dầu-00 thông thường, và một hỗn hợp phụ phẩm lên men chứa khô dầu hạt cải dầu-00 lên men, lúa mì, mật đậu nành, và vỏ khoai tây


a-d: các giá trị theo hàng ngang mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (P < 0.05).

Những điểm chính

- ESBM-1 và khô dầu đậu nành ép có mật độ tiêu hóa và chuyển hóa năng lượng cao hơn so với khô dầu đậu nành thông thường.
- Sản phẩm từ hạt cải dầu có tỷ lệ tiêu hóa năng lượng và mật độ tiêu hóa và chuyển hóa năng lượng thấp hơn các sản phẩm đậu nành.
- Tỷ lệ tiêu hóa năng lượng giảm trong các sản phẩm hạt cải dầu là do hàm lượng chất xơ cao hơn so với hàm lượng xơ trong các sản phẩm đậu nành.
- Báo cáo này dựa trên dữ liệu chưa được công bố của Diego Navarro, Yanhong Liu, Thomas Bruun, và H. H. Stein.

Đại học Illinois tại Urbana-Champaign

Nguồn: Pigprogress.net
Biên dịch: Ecovet team

kỹ thuật khác

33.jpg

Sản phẩm chọn lọc hiệu quả cao

ecovet-32.jpg

Thân thiện với môi trường

banner-footer-28.png

Hướng tới các giải pháp, sáng tạo, tiết kiệm

CÔNG TY TNHH ECOVET

Tổng lượng truy cập: 39,123

Đang online: 5