sản phẩm

CIBENZA® DP100

CIBENZA® DP100 chứa protease phổ rộng và chịu nhiệt, CIBENZA® DP100...

Amnil

AmnilTM - Probiotic đa chủng Bacillus...

Finase EC

Finase EC là sản phẩm chứa phytase thuộc nhóm 6-phytase có nguồn gốc từ vi...

AROMABIOTIC

Aromabiotic là sản phẩm chứa các axit béo mạch trung bình, cho hiệu...

VALOSIN FG 50

VALOSIN FG 50 phòng ngừa và điều trị các bệnh đường...

FINASE EC 5L

Thức ăn cho tôm và cá có nhiều nguyên liệu nguồn gốc thực vật....

Mintrex PSe

Mintrex Pse chứa 4 loại vi khoáng hữu cơ thiết yếu trong một sản phẩm, thuận tiện trong sản...

Mintrex Zn

Mintrex Zn có 16% Zn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu trong đường tiêu hóa,...

Mintrex Cu

Mintrex Cu là sản phẩm có 15% đồng (Cu) hữu cơ ở dạng chelate và 78% Methione...

Mintrex Mn

Mintrex Mn là sản phẩm có 13% Mn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu và 76 %...

BIOSTRONG®510

Giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi gia cầm thịt và gia cầm đẻ trứng...

Anyright

Thực khuẩn thể (bacteriophage) được phát hiện vào năm 1896, trước khi nhân loại...

CIBENZA® DP100

CIBENZA® DP100 chứa protease phổ rộng và chịu nhiệt, CIBENZA® DP100...

NOVELA

NOVELATM là sản phẩm probiotics...

VISANO

VISANOTM là lợi khuẩn trộn...

Neoprime

Neoprime, sản phẩm kích thích tăng trọng không có nguồn gốc kháng...

Varium

Varrium, sản phẩm kích thích tăng trọng, giảm áp lực mầm bệnh và tăng...

MD09

MD09 giúp kiểm soát phân ướt, giảm thiểu các hệ luỵ do phân ướt...

SIPERNAT®

Chất chống vón cục cho các sản phẩm premix và các hỗn hợp phụ gia thức...

Conditionade 2.5

ConditionAde 2.5 là chất hấp phụ độc tố tự nhiên cho vật...

Calibrin-Z

Calibrin® Z có phổ hoạt động rộng, khả năng hấp phụ độc tố cao làm giảm thiểu...

HP300

HP 300 là một sản phẩm protein chất lượng cao của HAMLET 

ImmunoWall

Prebiotic 2 trong 1 gồm MOS và Beta-Glucans từ vách tế bào nấm men. Ngăn ngừa...

Khô dầu cọ, nguồn nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi

Hai loài cọ thuộc chi Elaeis được trồng để sản xuất dầu: Cọ dầu Châu Phi Elaeis guineensis Jacq. (Nguồn gốc Tây Phi) và cọ dầu Châu Mỹ, Elaeis oleifera (Kunth) Cortés (Nam hoặc Trung Mỹ). Elaeis guineensis là loài có năng suất cao nhất (5-7 so với dầu 0,5 tấn / ha / năm) và loài này được sử dụng cho sản xuất dầu, mặc dù những giống lai khác nhau đã được phát triển cho mục đích này.

Khô dầu cọ là nguồn nguyên liệu thức ăn quan trọng là sản phẩm phụ của việc sản xuất dầu cọ (Elaeis guineensis Jacq.). Cây cọ này được trồng bởi vì các loại dầu của nó giàu axit béo no, dầu cọ chiết xuất từ cùi cọ, và dầu hạt cọ chiết xuất từ nhân trái cọ. Dầu cọ là dầu chủ lực ("dầu ăn của người nghèo", phổ biến ở Đông Nam Á và châu Phi nhiệt đới) và là thành phần không thể thiếu cho ngành công nghiệp thực phẩm (Prabhakaran Nair, 2010). 

Nó cũng có nhiều ứng dụng phi thực phẩm, bao gồm cả nguyên liệu cho dầu diesel sinh học. Dầu hạt cọ, ở trạng thái bán đông đặc ở nhiệt độ phòng, có giá trị kinh té không cao. Nhu cầu dầu cọ, được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng của các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ, sản xuất đã tăng nhanh chóng kể từ những năm 1990. Sản lượng dầu cọ tăng gấp đôi từ năm 1996 đến năm 2005 và tăng 10% mỗi năm trong những năm 2000. Dầu cọ vượt qua dầu đậu nành vào năm 2004 để trở thành dầu thực vật hàng đầu thế giới (45 triệu tấn vào năm 2010). Việc sản xuất dầu hạt cọ (5.6 triệu tấn trong năm 2010) vượt qua dầu lạc trong năm 2007 (FAO, 2012).
Dầu cọ được chiết xuất từ cùi cọ và giàu axit palmitic (42-47%) và axit oleic (37-41%) (Basiron, 2005).
Dầu hạt cọ được chiết xuất từ nhân cọ và giàu axit lauric (44-51%) (Gervajio, 2005).
Trong quá trình chiết xuất dầu truyền thống, trái cây được đun sôi, đập vào cối gỗ, và bột được ngâm trong nước cho đến khi dầu nổi lên bề mặt. Dầu sau đó được tách ra và đun sôi để loại bỏ các dấu vết cuối cùng của nước (Vaughan et al., 2009). Trong quy trình công nghiệp, các chùm trái cây được khử trùng bằng hơi nước để ngăn chặn sự hình thành các axit béo tự do. Các trái cây được tách ra khỏi chùm và chuyển đến một cái hố, nơi chúng được nung nóng, khuấy đều và ép để tách dầu cọ thô, và cho vào thùng làm sạch để loại bỏ bụi bẩn và độ ẩm trước khi gạn và sấy (Teoh Cheng Hai, 2002 ). Các đơn vị sản xuất công nghiệp có thể xay 20-60 tấn buồng cọ/giờ (Rossin, 2009). Trái cọ cho khoảng 43% dầu cọ thô và 57% bánh cọ, bao gồm vỏ 35% (xơ) và 65% thịt cùi (Pickard, 2005).

 Các miếng vỏ còn lại sau quá trình chiết xuất dầu cọ được tách ra từ bánh ép để giải phóng phần nhân, sau đó phần nhân được nghiền trong một nhà máy riêng biệt để thu được dầu hạt cọ thô (Teoh Cheng Hai, 2002). Dầu nhân cọ có thể được chiết xuất bằng máy hoặc trích ly bằng dung môi, quá trình này hiệu quả hơn nhưng tốn kém hơn, thường được thực hiện trong các đơn vị công nghiệp lớn hơn. Nhân được chia thành từng miếng nhỏ, được đưa qua các con lăn để làm chúng thành các mảnh, sau đó được nấu bằng hơi và ép (chiết cơ) hoặc được xử lý bằng dung môi (thường là hexane). Dầu hạt cọ được làm sạch trong các bình chứa (Poku, 2002). Hạt cọ bao gồm 83% vỏ và 17% hạt nhân, cho năng suất khoảng 50% dầu hạt cọ và 50% bánh nhân cọ (Pickard, 2005).

Phụ phẩm của ngành công nghiệp sản xuất dầu cọ là khô dầu cọ, giàu dinh dưỡng và được sử dụng làm nguyên liệu thức ăn cho heo, gà, bò và nhiều động vật khác.

Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng của khô dầu cọ, sử dụng làm nguyên liệu thức ăn cho động vật

Bảng 2: Thành phần axit amin của khô dầu cọ

Bảng 3: Năng lượng và các dưỡng chất khác


Sưu tầm và tổng hợp: Ecovet Team 

kỹ thuật khác

33.jpg

Sản phẩm chọn lọc hiệu quả cao

ecovet-32.jpg

Thân thiện với môi trường

banner-footer-28.png

Giải pháp phù hợp, tiết kiệm

CÔNG TY TNHH ECOVET

Tổng lượng truy cập: 121,413

Đang online: 7