sản phẩm

AROMABIOTIC

Aromabiotic là sản phẩm chứa các axit béo mạch trung bình, cho hiệu...

CIBENZA® DP100

CIBENZA® DP100 chứa protease phổ rộng và chịu nhiệt, CIBENZA® DP100...

Finase EC

Finase EC là sản phẩm chứa phytase thuộc nhóm 6-phytase có nguồn gốc từ vi...

Mintrex PSe

Mintrex Pse chứa 4 loại vi khoáng hữu cơ thiết yếu trong một sản phẩm, thuận tiện trong sản...

Mintrex Zn

Mintrex Zn có 16% Zn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu trong đường tiêu hóa,...

NATUPHOS 5000 L

Natuphos là sản phẩm của công ty BASF CHLB Đức. Hơn cả một chất xúc tác...

Amnil

AmnilTM - Probiotic đa chủng Bacillus giúp giảm mùi hôi trong chuồng...

SIPERNAT®

Chất chống vón cục cho các sản phẩm premix và các hỗn hợp phụ gia thức...

AGal-Pro®

Enzyme đặc biệt dành cho các khẩu phần có khô dầu đậu nành, bắp...

Hilyses

Hilyses bổ sung nucleotide tự do vào thức ăn gia súc

VALOSIN FG 50

VALOSIN FG 50 phòng ngừa và điều trị các bệnh đường...

HP300

HP 300 là một sản phẩm protein chất lượng cao của HAMLET 

Mintrex Mn

Mintrex Mn là sản phẩm có 13% Mn hữu cơ ở dạng chelate dễ hấp thu và 76 %...

Mintrex Cu

Mintrex Cu là sản phẩm có 15% đồng (Cu) hữu cơ ở dạng chelate và 78% Methione...

Dinh dưỡng ở heo con: Lật lại những vấn đề cơ bản!

Tiến sĩ Ioannis Mavromichalis, Ariston, Madrid, Tây Ban Nha

Để khắc phục những vấn đề liên quan đến cai sữa sớm chúng ta nên có một cái nhìn sâu hơn về dinh dưỡng. Có rất nhiều vấn đề cần tìm hiểu nhưng chúng ta cần nắm vững những điều cơ bản. Để heo phát triển đòi hỏi thức ăn phải hoàn hảo, nhưng hoàn hảo là như thế nào?

Ngày nay, dinh dưỡng ở heo con có lẽ là lĩnh vực khoa học thiết thực và hấp dẫn nhất trong chăn nuôi heo trên thế giới. Mặc dù chúng ta đã nỗ lực hết sức để khắc phục các vấn đề liên quan đến cai sữa sớm, nhưng vẫn chưa nhận được thành quả tương xứng. Chúng ta biết rằng cần cho heo con ăn, nhưng thực sự không biết cách làm thế nào! Một lần người bạn của tôi đã nói rằng: "Chúng ta chắc chắn có thể làm ra thức ăn hoàn hảo cho heo con và nó sẽ giải quyết hết tất cả các vấn đề, nhưng giá của nó sẽ là 4.000 USD mỗi tấn và sẽ không một ai mua nó."

Vấn đề thực sự ở đây là gì?
Để nuôi heo con đúng cách, chúng ta cần phải hiểu được đặc tính và nhu cầu dinh dưỡng, sinh lý của heo, và cách nó phản ứng khi kết hợp giữa thức ăn và phụ gia. Chúng ta cũng cần nhận ra rằng việc cho ăn khác với việc xây dựng công thức thức ăn, vì khẩu phần ăn cần phải được xử lý, vận chuyển, lưu trữ đúng cách, trước khi giới thiệu đến người tiêu dùng để họ nhận thấy được tiềm năng của chúng. Một điều quan trọng không kém nữa là sự phát triển của chương trình cho ăn bao gồm số lần thích hợp để thay đổi khẩu phần và số lượng mỗi khẩu phần ăn đối với từng nhóm heo để tránh việc cho ăn quá ít hoặc quá nhiều. Heo con nuôi theo điều kiện thương mại không bao giờ ăn đủ để phát triển hết tiềm năng của chúng trong vài tuần đầu sau cai sữa, vì chúng phải đối mặt với vô số thách thức lớn như cai sữa sớm, áp lực xã hội và môi trường, gây nhiễm miễn dịch, và tất nhiên là sự xa lạ với khẩu phần ăn và hệ thống cho ăn sau cai sữa.

Tăng trưởng nhanh như thế nào?
Tiềm năng phát triển của heo con hầu như chưa được khai thác hết. Các giả thiết thường cho rằng chúng luôn không đạt đến khả năng này vì giới hạn của sự thèm ăn dẫn đến hạn chế khả năng tăng trọng ở heo dưới 50kg. Để đưa ra giải pháp khả thi, chúng ta cần nhìn vào một vài nghiên cứu cũ về đề tài này. Trong điều kiện thí nghiệm (của một nghiên cứu hoàn thành vào những năm 70), heo có tỷ lệ tăng trưởng nhanh nhất khi được cung cấp sữa bò để tiêu thụ tùy thích từ 10-50 ngày tuổi.

Vào 30 ngày tuổi, heo nặng 15 kg với tốc độ tăng trưởng gần 600 g/ngày. So sánh với điều kiện chăn nuôi thực tế, heo hiếm khi nặng hơn 10 kg ở độ tuổi tương tự. Tiếp tục, vào 50 ngày tuổi, heo thí nghiệm đạt 32 kg với tốc độ tăng trưởng chung đáng kinh ngạc với hơn 700 g/ngày.
Trong điều kiện thương mại, heo được cho ăn khẩu phần khô hiếm khi nặng hơn 20 kg ở cùng độ tuổi. Rõ ràng, có rất nhiều cách để cải thiện, nhưng câu hỏi sau đó là: "Với chi phí bao nhiêu?"

Chi phí bao nhiêu?
Khó khăn đối với heo con chưa biết ăn dặm là vào thời điểm mới cai sữa, chúng không chỉ phải học cách nhận ra một chế độ ăn mới mà còn phải quyết định khi nào ăn và ăn bao nhiêu. Đồng thời, chúng phải phân biệt giữa khát và đói (lúc này không còn sữa cho nó!) và học cách thỏa mãn nhu cầu thông qua các thiết bị riêng biệt: thức ăn khô và nước. Do đó, không quá ngạc nhiên khi chứng chán ăn xuất hiện sau cai sữa. Thiếu cân bằng dinh dưỡng dẫn đến tổn thương biểu mô đường tiêu hóa do dị ứng với các kháng nguyên trong khẩu phần (khô dầu đậu nành), dẫn đến tiêu chảy và kém hấp thụ chất dinh dưỡng.

Cho mục đích thí nghiệm, tối ưu lượng ăn vào của heo con trong điều kiện không giới hạn có thể được dự đoán với độ chính xác hợp lý bằng phương trình được đề xuất bởi Tiến sĩ Whittemore: Lượng ăn vào (g/ngày) = 120 × BW0.75. Giả thiết cho rằng cứ mỗi 0.1 kg thức ăn tiêu thụ thêm mỗi ngày trong suốt tuần đầu sau cai sữa, trọng lượng cơ thể tăng khoảng 1.5 kg vào cuối tuần thứ tư sau cai sữa. Lượng ăn vào cao trong tuần đầu sau cai sữa cũng thúc đẩy sự tăng trưởng và cải thiện sức khỏe trong suốt toàn bộ quá trình heo lứa/heo vỗ béo. Trong điều kiện thương mại hiện nay, lượng ăn vào trung bình 150-200 g/ngày trong tuần đầu sau cai sữa được coi là đạt yêu cầu

Chỉ tiêu trong khẩu phần ăn như thế nào?
Hàm lượng chất dinh dưỡng và mật độ năng lượng không quan trọng bằng việc lựa chọn nguyên liệu trong tuần đầu sau cai sữa. Sau giai đoạn nhạy cảm này, cần cung cấp khẩu phần ăn giàu dinh dưỡng để thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng và hiệu quả (chủ yếu ở heo thịt). Một công thức dinh dưỡng chất lượng cao sẽ giúp khẩu phần ăn đạt được tỷ lệ tăng trọng bằng hoặc ít hơn 1.45 trong chu kỳ heo con.

Năng lượng - Mật độ năng lượng khẩu phần ăn dưới 11 MJ NE/kg dự đoán sẽ làm giảm năng lượng tiêu thụ ở heo dưới 15 kg, trong khi đó 10 MJ NE/kg là mức tối thiểu được đề xuất cho heo trên 15 kg. Bảng khuyến nghị mật độ năng lượng trong khẩu phần ăn chỉ nên được dùng để tham khảo (Xem bảng).

Bảng 1. Ví dụ một vài công thức tại châu Âu.

Nguyên liệu (%)

Khối lượng cơ thể (kg)

4-6

6-8

8-12

12-20

20-30

Hạt ngũ cốc

lúa mì, lúa mạch, ngô, tấm yến mạch các sản phẩm phụ từ xay lúa mì, sắn

20-30

30-40

40-50

50-60

60-70

Dầu

Dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu dừa

0-10

0-8

0-6

04

0-2

Rỉ mật củ cải đường, bột củ cải đường

0-10

0-10

0-10

0-10

0-10

Nguồn Lactose

skim milk, whey, lactose, sucrose

20-40

10-20

5-15

0-5

0

Protein động vật

Bột cá, các sản phẩm từ huyết, đạm sữa

5-15

5-10

0-10

0-5

0

Protein thực vật

Đạm thực vật tinh chế (đậu nành, khoai tây, lúa mì) khô đậu nành và đậu nành ép đùn, khô hạt cải, đậu peas, khô dầu hướng dương

10-30

15-30

20-30

20-30

20-30

NE (MJ/kg)

12.0

115

11.0

10.5

10.0

Đạm thô (%)

23

22

21

20

19

Lysine tổng số (%)

1.65

1.55

1.45

1.35

1.25

Lysine tiêu hóa hồi tràng thực (%)

1.50

1.40

1.30

1.20

1.10

Calcium (%)

1.0

0.9

0.8

0.7

0.6

TPphosphorus tổng số (%)

0.9

0.8

0.7

0.6

0.5

Phosphorus tiêu hóa (%)

0.45

0.40

0.35

0.30

0.25

Na (%)

0.40

0.35

0.30

0.25

0.20

Kẽm từ  ZnO

+++

++

+

-

-

Đồng từ CuSO, (ppm)

-

-

+++

++

+

Immunoglobulins (huyết tương, bột trứng siêu miễn dịch)

+++

++

+

 

Trích từ Mavrmichdis, I., Dinh dưỡng thực hành cho heo con (CABI, UK, 2006).

Axit amin - Trong số mười axit amin thiết yếu, những axit amin có khả năng bị hạn chế trong khẩu phần ăn ít protein (để tránh tiêu chảy trong khẩu phần ăn không kháng sinh) của heo con là lysine, methionine, threonine, tryptophan, isoleucine, và valine. Bổ sung glutamine trong khẩu phần ăn của heo con sớm có thể đảm bảo sức khỏe đường tiêu hóa (thêm khoảng 0.5% glutamine giúp phục hồi sức khỏe đường ruột sau khi cai sữa sớm). Chỉ tiêu cho các axit amin thiết yếu trong khẩu phần được tính toán dựa trên công thức lysine cố định và protein lý tưởng. Sau này, hầu hết các tác giả đều đồng ý với tỷ lệ lysine:methionine & cysteine:threonine:tryptophan là 100:60:65:18.

Giảm protein thô trong khẩu phần ăn được cho là có lợi cho cả vật nuôi (sinh trưởng tốt, ít gặp vấn đề tiêu chảy) và môi trường (ít thải ni-tơ hơn). Thật vậy, heo có khẩu phần ăn ít protein (dưới 21%) ít bị nhiễm khuẩn Escherichia coli. Khẩu phần ít protein còn làm giảm thải nitơ từ 30% -50%, tùy thuộc vào chỉ tiêu ban đầu, lựa chọn thành phần, và mức độ giảm hàm lượng protein trong thức ăn. Protein thô không được thấp hơn 3-4% đơn vị (nghĩa là không nên dưới 17%) trừ valine (có sẵn) và (hoặc) isoleucine (không có sẵn) được thêm vào.

Lactose - Heo con thích lactose. Thật vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong vài tuần đầu sau cai sữa lượng ăn vào và sự phát triển của chúng tăng tỷ lệ thuận với hàm lượng lactose tăng trong khẩu phần ăn lên đến 50% (ở mức này, lactose gây ra tiêu chảy xuất tiết!) Trong điều kiện thực tế, khẩu phần đơn giản chứa 10%-20% whey khô liên tục cải thiện năng suất tăng trưởng ít nhất 15%-30%. Nhiều nghiên cứu đánh giá hàm lượng lactose tối thiểu cho heo con cai sữa cho thấy rằng hàm lượng lactose trong khẩu phần có thể được giảm nhanh sau hai tuần đầu sau cai sữa, trong khi đó lactose không thực sự mang lại lợi ích cho heo có trọng lượng trên 12-15 kg.

Vitamin và khoáng chất - Đối với các loại vitamin và khoáng chất, bao gồm cả khoáng vi lượng, bảng kiến nghị của BSAS (2003) cung cấp hàm lượng vitamin và khoáng chất được khuyến cáo bởi các nhà sản xuất và những người sáng lập nghiên cứu. Tuy nhiên, có thể tăng hoặc giảm mức độ tùy vào từng trường hợp. Ví dụ, vitamin E thường lên đến mức 250 IU/kg vì (tiềm năng) lợi ích sức khỏe, trong khi nghiên cứu gần đây chứng minh rằng mức NRC (1998) là chưa đủ. Trong khoáng chất, canxi là chất dinh dưỡng ít tốn kém nhất, do đó nhiều công thức có chi phí thấp thường pha thêm Canxi; một số công thức chứa hơn 1% Ca. Tuy nhiên, canxi carbonat có hoạt lực đệm mạnh làm giảm đáng kể nồng độ axit trong dạ dày, do đó gây trở ngại cho quá trình tiêu hóa protein. Vì vậy khuyến cáo nhấn mạnh rằng hàm lượng canxi trong khẩu phần ăn không được vượt quá nhu cầu thực tế và tỷ lệ canxi:phốt pho không quá 1.2:1.
Nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc bổ sung natri và clo trong thức ăn của heo con mang lại nhiều lợi ích. Do đó, khẩu phần tập ăn của heo dưới 10 kg nên chứa khoảng 0.4% Na và ít nhất nên có một lượng Cl tương ứng.

Sử dụng những nguyên liệu nào?
Nguyên liệu cung năng lượng - bắp, lúa mì, và lúa miến là nguồn năng lượng chính của hầu hết khẩu phần heo con trên thế giới. Lúa mạch và tấm lúa mì cũng thường được sử dụng, trong khi đó lúa mạch đen và tiểu hắc mạch không phổ biến lắm vì chúng giàu yếu tố kháng dinh dưỡng. Sắn cũng là một nguồn năng lượng tuyệt vời. Gạo, đặc biệt là tấm, được dùng chủ yếu ở Châu Á, gạo nấu chín thường được sử dụng trong khẩu phần ăn chất lượng cao trên thế giới.

Các sản phẩm phụ từ ngũ cốc, như phụ phẩm của quá trình sản xuất bột mì hoặc bột ngô ướt cũng được dùng trong khẩu phần heo con nhưng không được cho ăn ngay sau khi cai sữa, và luôn phải hạn chế số lượng vì nó có xu hướng nở ra do đó làm giảm lượng ăn vào. Dầu thực vật thường được ưa chuộng hơn dầu động vật vì heo con dễ tiêu hóa hơn. Vì vậy, các loại dầu chiết xuất từ đậu nành, ngô, và hướng dương thường được sử dụng trong hai tuần đầu sau cai sữa, còn dầu động vật, như mỡ heo và mỡ bò được ưa chuộng trong các giai đoạn phát triển sau của heo con.

Nguyên liệu cung đạm - Bột cá là một nguồn protein tuyệt vời cho heo con, nhưng giá thành và tính sẵn có của sản phẩm là những mặt hạn chế của nó. Nguồn protein có nguồn gốc từ động vật khác bao gồm protein từ sữa, bột gia cầm, bột thịt, và các sản phẩm từ máu (được cho phép). Protein huyết thanh là một trong những thành phần chính trong chế độ ăn của heo con vì hàm lượng của nó trong globulin miễn dịch cao dẫn đến năng suất tăng trưởng được cải thiện. Ngày nay, huyết tương đã được thay thế bởi các globulin miễn dịch có nguồn gốc từ trứng ít tốn kém hơn, và cũng không gây nguy cơ lây truyền bệnh bò điên và các bệnh khác. Protein thực vật thông thường bao gồm khô dầu đậu nành, protein đậu nành (trong chế độ ăn sớm), protein gluten từ lúa mì, protein khoai tây, đậu Hà Lan, đậu lupin, khô dầu hướng dương, đậu faba, và đậu lăng, tùy thuộc vào giá thành và tính sẵn có của sản phẩm ở địa phương.

Đậu nành và hầu hết các nguồn protein thực vật khác rất giàu các yếu tố kháng dinh dưỡng, vì vậy cần xử lý nhiệt để làm cho các nguyên liệu này phù hợp với heo con. Protein thực vật chưa tinh chế thường bị hạn chế sử dụng trong hai tuần đầu sau cai sữa để tránh phản ứng viêm nhiễm với protein kháng nguyên có trong các nguyên liệu này. Nhưng, vượt qua giai đoạn cai sữa ban đầu, các nguồn protein thực vật này cung cấp phần lớn các axit amin trong khẩu phần ăn thực tế của heo con.

Khoáng hỗ trợ tăng trưởng – Đồng sunfat và kẽm oxit được tạo thành từ khoáng giúp nâng cao năng suất tăng trưởng và giảm các triệu chứng tiêu chảy ở heo sau cai sữa.
Chế độ ăn trong vài tuần đầu sau cai sữa thường được thêm lên đến 3000 ppm kẽm từ kẽm oxit hoặc ít hơn đối với các dạng khác của kẽm oxit để nâng cao năng suất tăng trưởng và giảm các triệu chứng tiêu chảy. Ngoài ra, khuyến cáo nên dùng đến 250 ppm đồng từ đồng sunfat cho giai đoạn phát triển còn lại của heo con, nhưng thông thường giảm xuống còn 125 ppm do quy định của địa phương. Các muối khoáng này không có ảnh hưởng đáng kể, nhưng chúng có tác dụng bổ trợ cho các tác nhân kháng khuẩn, bao gồm các axit hữu cơ.

Thức ăn nên được sản xuất như thế nào?
Trước khi thức ăn được đưa vào sản xuất thực sự cần có bước chuẩn bị sau khi có công thức thức ăn. Một quy trình ổn định có thể làm tăng giá trị dinh dưỡng thức ăn cho heo con và làm chúng dễ đón nhận thức ăn hơn.

Quá trình nghiền - Mức độ mịn của các thành phần trong khẩu phần ăn đã nhận được sự chú ý đáng kể trong các nghiên cứu khoa học nhưng chưa được chú ý nhiều trong thương mại thực tế. Ta thấy rằng kích thước hạt mịn làm tăng diện tích bề mặt tiếp xúc với enzyme, do đó chất dinh dưỡng được tiêu hóa tốt hơn. Nhìn chung, cứ giảm kích thước đi mỗi 100 micron sẽ cải thiện được 1.3% hiệu quả thức ăn. Kích thước hạt ngô ở mức chấp nhận được là khoảng 600 micron. Đối với khô dầu đậu nành, trong khoảng 600-900 micron được coi là đủ.

Chất lượng viên thức ăn - người ta đã công nhận rằng việc ép viên thức ăn cải thiện khoảng 10% tỷ lệ tăng trưởng và hiệu quả thức ăn ở heo con do cải thiện sự hấp thụ chất dinh dưỡng và khả năng tiêu hóa.

Chất lượng thức ăn viên thường đi với độ bền viên (chỉ số> 90%). Một viên thức ăn bền không cần thiết phải là một viên cứng vì năng suất có thể bị giảm từ 10%-15% khi heo khó nhai thức ăn. Một tiêu chí chất lượng khác là kích thước của viên thức ăn, cụ thể là đường kính viên. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng heo con 14-21 ngày tuổi có thể dễ dàng ăn bất kỳ viên thức ăn nào có kích thước trong khoảng 1-12 mm. Những viên lớn hơn 3-4 mm có thể gây lãng phí, nên hầu hết khẩu phần ăn heo con thường có đường kính viên trung bình 2mm.

Kết luận
Dinh dưỡng ở heo con chắc chắn là một đề tài hấp dẫn, bao gồm các khía cạnh về sinh lý tiêu hóa, công thức thức ăn, lựa chọn nguyên liệu, sản xuất và quản lý thức ăn. Chúng ta nhận thức được rằng chất lượng khẩu phần sau cai sữa là rất quan trọng trong việc giảm sốc và tác động tiêu cực của cai sữa sớm. Tuy nhiên, một chế độ ăn tối ưu cần được kết hợp với quy trình quản lý thức ăn tối ưu để đảm bảo chất lượng khẩu phần ăn thực tế phù hợp với hệ tiêu hóa của heo con. Suy cho cùng, chúng cũng giống như trẻ nhỏ.

Nguồn: Pigprogress.net 
Biên dịch: Ecovet Team

kỹ thuật khác

33.jpg

Sản phẩm chọn lọc hiệu quả cao

ecovet-32.jpg

Thân thiện với môi trường

banner-footer-28.png

Hướng tới các giải pháp, sáng tạo, tiết kiệm

CÔNG TY TNHH ECOVET

Tổng lượng truy cập: 39,130

Đang online: 6